(Ông): Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT Saigon Ratings.
1. Thưa (Ông), trong bối cảnh nhu cầu vốn cho phát triển hệ thống đường sắt đô thị rất lớn, ông đánh giá như thế nào về đề xuất nghiên cứu phát hành trái phiếu phát triển đường sắt (bao gồm trái phiếu công trình, trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu địa phương)?
Chúng tôi đánh giá cao chủ trương của Chính phủ, là tiếp tục hoàn thiện quy hoạch đường sắt theo không gian phát triển mới của đất nước, các địa phương và phát triển công nghiệp đường sắt, hệ thống đường sắt với tầm nhìn 100 năm; với việc thực hiện chính đa dạng hóa các nguồn vốn, gồm vốn Nhà nước (đầu tư công, tăng thu, tiết kiệm chi, phát hành trái phiếu), vốn tư nhân (BOT, BT, TOD…), vốn vay nước ngoài; nguồn lực đóng góp của người dân trong giải phóng mặt bằng, vv.
Nhu cầu nguồn vốn đầu tư phát triển các tuyến đường sắt quốc gia, vùng kinh tế trọng điểm và ở các đô thị trọng điểm, trong giai đoạn 2026-2045 là rất lớn, với yêu cầu kỳ hạn vay dài hạn tối thiểu từ 5 đến 10 năm trở lên. Trong khi đó, theo kế hoạch của Chính phủ, dự toán nhu cầu nguồn vốn đầu tư công cho giai đoạn 2026- 2030 cũng rất lớn, dự kiến riêng năm 2026 vốn đầu tư sẽ cần khoảng hơn 1 triệu tỷ đồng. Hơn nữa, các tuyến đường sắt có chu kỳ đầu tư, khai thác dự án và thu hồi vốn thường kéo dài hàng thập kỷ và có mức độ rủi ro tài chính ở mức khá cao so với các lĩnh vực kinh tế khác.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để phát triển kinh tế thì hạ tầng giao thông nói chung và các tuyến đường sắt quốc gia, liên vùng, ở các đô thị nói riêng cần phải đi trước, được đầu tư nguồn vốn hàng năm lớn, với việc thực hiện chính sách khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia, bao gồm kinh phí ngân sách nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân để phát triển đồng bộ nhằm vừa phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế, gia tăng cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, giảm thiểu lãng phí nguồn lực phát triển xã hội và chi phí logistics của quốc gia.
Trong điều kiện nguồn kinh phí từ ngân sách còn hạn chế và phải bảo đảm mức trần nợ công ở ngưỡng an toàn. Thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh phát triển chưa thật ổn định nên kênh dẫn vốn của thị trường hiện nay chủ yếu tập trung gánh nặng vào tín dụng ngân hàng nên việc huy động các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn để phát triển hệ thống các tuyến đường sắt còn gặp nhiều khó khăn.
Đồng thời, việc Chính phủ hoặc các doanh nghiệp phát hành trái phiếu trên thị trường vốn quốc tế trong thời điểm hiện nay cũng có nhiều bất lợi, khó khăn do mức tín nhiệm quốc gia Việt Nam vẫn đang ở mức “Đầu cơ” nên sẽ phải chụi mức lãi cao và khả năng phát hành thành công trái phiếu là không lớn; đi đôi với những rủi ro tiềm ẩn về sự biến động khó lường của tỷ gia ngoại tệ trên thị trường trong trung và dài hạn.
Vì vậy, yêu cầu khách quan về thực hiện chính sách đa dạng hóa nguồn lực đầu tư và khơi thông các kênh dẫn vốn trong nước, đặc biệt là từ kênh trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu công trình là rất quan trọng và cấp thiết. Điều thuận lợi là các quy định mới về hợp tác công – tư (PPP) đã đơn giản hóa thủ tục phê duyệt dự án, tăng cường cơ chế bảo vệ nhà đầu tư và phân cấp thẩm quyền cho các bộ, ngành, địa phương. Những thay đổi này, được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thu hút vốn tư nhân vào các dự án hạ tầng trong giai đoạn tới.
Các dự án đầu tư đường sắt (cả dự án đầu tư công và dự án đầu tư với sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân) có thể được tài trợ toàn phần hay một phần bằng trái phiếu dự án. Trái phiếu dự án được bảo đảm trước hết từ dòng tiền của các dự án đường sắt có thu. Cơ chế huy động vốn đầu tư đường bằng trái phiếu dự án sẽ bảo đảm được các nguyên tắc về tối đa hóa giá trị, gia tăng hiệu quả và bảo đảm an toàn tài chính.
Việc nghiên cứu phát hành trái phiếu là bước đi tất yếu và phù hợp với thông lệ quốc tế. Do đặc thù các dự án đường sắt đô thị (Metro) có tổng mức đầu tư cực lớn (từ vài tỷ đến hàng chục tỷ USD), cùng chu kỳ đầu tư và thời gian thu hồi vốn kéo dài hàng thập kỷ, nên việc huy động vốn đáp ứng nhu cầu dự án là một thách thức không nhỏ. Yêu cầu đặt ra là phải làm sao để khơi thông được các nguồn lực tài chính nhàn rỗi trong xã hội, tạo ra kênh kết nối hiệu quả để nguồn vốn của người dân và các định chế tài chính được huy động vào các dự án hạ tầng trọng điểm một cách an toàn.
Mỗi loại hình trái phiếu nói trên đều có những ưu điểm, vai trò quan trọng để hình thành một cấu trúc tài chính đa tầng, giúp các địa phương và Chính phủ chủ động điều tiết nguồn lực dựa trên đặc thù rủi ro và khả năng sinh lời của từng hợp phần dự án. Trong đó, Trái phiếu Chính phủ có độ tin cậy cao nhất, với chi phí lãi suất thấp nhất, đây là “vốn mồi” quan trọng cho các trục giao thông xương sống mang tầm quốc gia. Trái phiếu Chính quyền địa phương rất phù hợp với các đô thị đặc biệt như TP.HCM hay Hà Nội, do các thành phố này có dư địa vay nợ và khả năng tự cân đối ngân sách tốt để cam kết trả nợ. Còn Trái phiếu công trình lại có ưu điểm là được cấu trúc gắn liền với dòng tiền từ chính dự án hoặc các nguồn thu liên quan (như khai thác quỹ đất quanh ga Metro – mô hình TOD), nên có thể tạo cơ chế hoàn trả vốn rõ ràng và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư dài hạn.
Nhìn chung, để kênh huy động này vận hành hiệu quả, cần làm rõ cơ chế bảo đảm nguồn trả nợ, chẳng hạn từ ngân sách, nguồn thu khai thác hạ tầng hoặc các cơ chế chia sẻ rủi ro phù hợp. Bên cạnh đó, việc tăng cường minh bạch thông tin dự án, chuẩn hóa báo cáo tài chính và áp dụng thực hiện Xếp hạng tín nhiệm cũng sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá rõ hơn mức độ rủi ro của từng loại trái phiếu dự án, từ đó góp phần nâng cao khả năng huy động vốn với chi phí hợp lý.
2. Theo (Ông), phát hành trái phiếu cho các dự án đường sắt đô thị có thể mang lại những lợi ích gì về mặt huy động nguồn lực dài hạn và giảm áp lực lên ngân sách?
Một điểm nhấn quan trọng trong bức tranh tài chính năm nay, là việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và Quyết định của Thủ tướng. Theo đó, các địa phương chỉ phân bổ 95% số vốn ngân sách địa phương được giao. 5% còn lại (tương đương hơn 32.500 tỷ đồng) đang được tiết kiệm để dành nguồn lực đầu tư cho công trình trọng điểm: Tuyến đường sắtLào Cai– Hà Nội – Hải Phòng.
Phát hành trái phiếu cho các dự án đường sắt đô thị có thể mang lại một số lợi ích đáng kể về chính sách huy động vốn theo hướng đa dạng hóa các nguồn lực tài chính trong nước, quốc tế và giảm áp lực lên ngân sách Nhà nước.
Một là, đây là kênh huy động vốn trung và dài hạn phù hợp với đặc thù của các dự án hạ tầng quy mô lớn, vốn có tổng mức đầu tư rất cao và thời gian hoàn vốn kéo dài. Thông qua thị trường trái phiếu, Việt Nam có thể tiếp cận nguồn vốn dài hạn từ các nhà đầu tư tổ chức như quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm hoặc các định chế tài chính, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách Nhà nước hoặc tín dụng ngân hàng.
Hai là, việc phát hành trái phiếu giúp đa dạng hóa nguồn lực tài chính cho các dự án hạ tầng, chuyển hóa nguồn lực đầu tư xã hội, qua đó giảm áp lực lên ngân sách Nhà nước trong từng giai đoạn đầu tư. Các nguồn lực tiền vốn nhàn rỗi trong dân cư rất lớn. Đối với nguồn lực từ ngân sách Nhà nước, mô hình trái phiếu đường sắt đô thị sẽ có những lợi ích thực tế giúp giảm gánh nặng và tăng tính tự chủ tài chính:
(I) Cơ chế “Tự vay – Tự trả”: Với mô hình dự án TOD (phát triển đô thị trong các khu vực nhà ga chính), nguồn doanh thu từ việc khai thác quỹ đất và dịch vụ sẽ được dùng để trả nợ trái phiếu. Điều này giúp dự án có khả năng tự cân đối tài chính mà không cần “xin” ngân sách cấp phát hàng năm.
(II) Dãn cách nghĩa vụ tài chính: Thay vì buộc Nhà nước phải “bỏ tiền túi” ra trả hết một lúc cho một siêu dự án, trái phiếu giúp chúng ta chuyển hóa nghĩa vụ này thành những khoản trả góp dài hạn. Điều này giúp ngân sách luôn giữ được trạng thái an toàn, không bị cạn kiệt nguồn lực cho các mục tiêu an sinh xã hội khác; đồng thời đảm bảo rằng những thế hệ hưởng lợi từ dự án trong tương lai sẽ cùng chia sẻ trách nhiệm tài chính với hiện tại.
Ba là, sự tham gia của các trái phiếu đường sắt đô thị với giá trị rất lớn và được phát hành, quản lý chuyên nghiệp, có thể đóng vai trò dẫn dắt, thiết lập các chuẩn mực mới cho thị trường tài chính. Nếu có cơ chế minh bạch thông tin và đánh giá rủi ro rõ ràng, việc phát hành trái phiếu cho các dự án hạ tầng còn có thể thúc đẩy tính kỷ luật tài chính và nâng cao mức độ minh bạch của dự án, từ đó tạo niềm tin cho nhà đầu tư và góp phần phát triển thị trường vốn trong nước. Đồng thời, thông qua việc đánh Xếp hạng tín nhiệm các dự án đầu tư, các đợt phát hành sẽ giúp xác định một “mức giá vốn” hợp lý, thiết lập khung lãi suất dài hạn, giảm rủi ro biến động lãi suất so với việc vay tín dụng thương mại thông thường và là cơ sở thông tin tham khảo minh bạch, khách quan để gia tăng thu hút vốn các nhà đầu tư cá nhân, tổ chức trên thị trường trong và quốc tế.
Tóm lại, với chỉ đạo của Thủ tướng về việc “đa dạng hóa nguồn vốn”, trong đó có phát hành trái phiếu để đầu tư hệ thống đường sắt đô thị, là tiền đề để chúng ta thoát ly khỏi tư duy cũ là “chờ vốn ngân sách”, chuyển sang tư duy huy động tổng lực từ thị trường thông qua các công cụ tài chính minh bạch. Đây không đơn thuần là một nghiệp vụ vay mượn, mà là quá trình “thị trường hóa” việc huy động vốn hạ tầng.
Khi có sự tham gia của thị trường, tính minh bạch và hiệu quả của dự án sẽ được kiểm soát chặt chẽ hơn, từ đó giảm áp lực cho ngân sách Nhà nước không chỉ ở khâu đầu tư mà còn ở khâu quản trị rủi ro tài chính dài hạn. Nhìn chung, nếu được thiết kế chính sách khuyến khích phù hợp, trái phiếu phát triển hạ tầng nói chung và trái phiếu cho các dự án đường sắt đô thị nói riêng, có thể sẽ trở thành một công cụ quan trọng để huy động nguồn lực dài hạn từ thị trường vốn cho các dự án đầu tư hạ tầng chiến lược của Việt Nam trong trung và dài hạn.
Saigon Ratings [06/03/2026 13:30]
