(Ông): Phùng Xuân Minh, Chủ tịch HĐQT Phát Thịnh Group & Saigon Ratings.
Saigon Ratings dự báo, giai đoạn 2026–2030 và tầm nhìn đến 2045, nhu cầu vốn đầu tư phát triển trung và dài hạn, đối với các lĩnh vực kinh tế trọng điểm của Việt Nam như hạ tầng giao thông (đường không, đường bộ, đường sắt và cảng biển), năng lượng, logistics, công nghệ cao, đô thị, hạ tầng số và chuyển đổi xanh là rất lớn. Trong khi điều kiện của ngân sách nhà nước và khả năng dẫn vốn trong nước, từ 03 kênh quan trọng: Tín dụng ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu còn có nhiều hạn chế, thách thức.
Việc khơi thông nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn từ thị trường trái phiếu quốc tế là thông lệ phổ biến, có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng, ngoài các kênh tài trợ vốn truyền thống của thị trường tài chính trong nước như tín dụng ngân hàng, cổ phiếu và trái phiếu Chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp, đối với nhiều quốc gia và các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới.
Đối với Việt Nam, định hướng chiến lược huy động các nguồn lực vốn đầu tư trung và dài hạn trên thị trường vốn quốc tế không chỉ là vấn đề bổ sung thêm một kênh dẫn vốn đơn thuần của nền kinh tế mà khơi thông các dòng vốn có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều. Đây là cơ hội để Việt Nam có thể tái thiết lập mức lãi suất tham chiếu quốc gia trên thị trường tài chính toàn cầu, nhằm vừa đảm bảo nhu cầu huy động các nguồn vốn quốc tế trong từng thời kỳ phát triển; vừa góp phần từng bước giảm chi phí vốn huy động của nền kinh tế quốc gia.
Khó khăn, Thách thức các kênh dẫn vốn truyền thống trong nước
Theo số liệu ước tính của Bộ Tài chính, nhu cầu nguồn vốn đầu tư phát triển trung và dài hạn của nền kinh tế Việt Nam, trong giai đoạn 2026–2030, tối thiểu là khoảng 38,5 triệu tỷ đồng (khoảng hơn 1.400 tỷ USD), tương đương khoảng 40% tổng GDP quốc gia. Vì vậy, yêu cầu cấp bách phát triển thị trường vốn Việt Nam không còn đơn thuần là tìm kiếm các giải pháp có tính chất bổ trợ cho tín dụng ngân hàng, mà đang trở thành một yêu cầu cấp bách mang tính chiến lược quan trọng, đối với mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn 2026–2030, gắn với tầm nhìn và định hướng chiến lược phát triển quốc gia đến năm 2045.
Theo dự báo của World Bank, nhu cầu đầu tư hạ tầng của Việt Nam vào khoảng 30 tỷ USD mỗi năm và khoảng thiếu hụt tích lũy cho giai đoạn 2019–2040, có thể lên tới 94 tỷ USD. Giai đoạn 2019–2023, nền kinh tế huy động bình quân khoảng 53,5 tỷ USD mỗi năm qua khu vực ngân hàng, trong khi vốn qua thị trường cổ phiếu chỉ đạt khoảng 2,9 tỷ USD mỗi năm. Những con số này cho thấy, một thực tế là hệ thống ngân hàng vẫn đang đảm nhận phần rất lớn chức năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, kể cả nhiều nhu cầu vốn có kỳ hạn dài.
Về nguyên tắc nền tài chính quốc gia, cấu trúc vốn này cần phải được tái cân bằng. Ngân hàng thương mại chủ yếu huy động vốn ngắn và trung hạn, trong khi yêu cầu tài trợ vốn cho các dự án trọng điểm quốc gia như đường cao tốc, đường sắt, cảng biển, năng lượng hay hạ tầng đô thị có vòng đời từ 10–20 năm, thậm chí dài hơn. Nếu Việt Nam tiếp tục dựa quá lớn vào tín dụng ngân hàng, nền kinh tế phải đối mặt với rủi ro chênh lệch kỳ hạn và hạn chế khả năng phân bổ tín dụng cho khu vực sản xuất – kinh doanh. Hơn nữa, hệ thống ngân hàng cũng không thể đáp ứng được nhu cầu này của nền kinh tế, khi Việt Nam thực hiện mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế quốc gia là 02 con số trong suốt thời gian dài.
Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính) về kế hoạch vay, trả nợ công năm 2026, là kế hoạch vay của Chính phủ tối đa 969.796 tỷ đồng; gồm tối đa 583.700 tỷ đồng bù đắp bội chi ngân sách, không quá 376.005 tỷ đồng trả nợ gốc và khoảng 10.092 tỷ đồng cho vay lại. Nguồn huy động bao gồm phát hành trái phiếu Chính phủ, ODA và vay ưu đãi, phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường quốc tế và các nguồn hợp pháp khác. Riêng kế hoạch phát hành trong nước dự kiến khoảng 500.000 tỷ đồng.
Như vậy, mục tiêu trong trung và dài hạn Việt Nam cần hướng tới không phải thay thế nguồn vốn trong nước bằng dòng vốn ngoại, mà là cần có một cấu trúc tài chính vốn cân bằng hơn, với ngân sách và ngân hàng giữ vai trò nền tảng; trong khi đó thị trường trái phiếu, vốn cổ phần, đầu tư PPP, quỹ đầu tư hạ tầng và dòng vốn quốc tế cùng chia sẻ trách nhiệm về khả năng đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn của nền kinh tế quốc gia.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 29/6/2026, tổng dư nợ tín dụng của toàn hệ thống đạt khoảng 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với thời điểm cuối năm 2025. Trong nửa đầu năm 2026, hệ thống ngân hàng đã bổ sung thêm khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vốn cho nền kinh tế. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được định hướng ưu tiên cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh; đặc biệt là các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế như doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp, nông thôn và các động lực tăng trưởng quan trọng của quốc gia.
Quy mô tín dụng tiếp tục cho thấy, vai trò chủ đạo của hệ thống ngân hàng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tín dụng đang cao hơn tốc độ tăng huy động vốn. Theo số liệu thống kê của Saigon Ratings, tại thời điểm 26/6/2026, tổng mức tín dụng tăng khoảng 7,41%, trong khi huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng hơn 5,02% so với cuối năm 2025. Khoảng cách này tạo áp lực lên chi phí vốn, thanh khoản và khả năng cân đối kỳ hạn, nhất là trong điều kiện nhu cầu vay trung và dài hạn cho đầu tư phát triển các lĩnh vực về hạ tầng giao thông, bất động sản, công nghệ và các dự án quy mô lớn của quốc gia được dự báo tiếp tục xu hướng gia tăng trong trung và dài hạn.
Về tổng thể, hệ thống ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chủ lực của nền kinh tế, song đang chịu áp lực về cân đối nguồn vốn và chất lượng tài sản. Thị trường chứng khoán đạt bước tiến đáng kể về quy mô, hạ tầng và nâng hạng, nhưng tính lan tỏa của dòng tiền cần tiếp tục được củng cố. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp mặc dù có xu hướng phục hồi, từng bước phát triển ổn định nhưng theo hướng chọn lọc, với sự phân hóa ngày càng rõ theo chất lượng tín dụng của tổ chức phát hành.
Kênh dẫn vốn thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong nước, trong ngắn và trung hạn được dự báo tiếp tục phải đối mặt với một số khó khăn, thách thức về niềm tin và tính thanh khoản thị trường, xu hướng lãi suất ngày càng gia tăng, kỳ hạn huy động trái phiếu thường không dài (khoảng từ 2–5 năm), khả năng huy động vốn thường hạn chế về quy mô (vài trăm tỷ đến vài ngàn tỷ đồng); đồng thời các trái chủ cá nhân trên thị trường đứng trước tâm lý cân nhắc, so sánh với các kênh đầu tư khác phù hợp hơn (như tích trữ vàng, ngoại tệ, mua bất động sản, gửi tiết kiệm, v.v.), trong khi các nhà đầu tư tổ chức còn rất hạn chế.

