PHẦN 2: PHÁT HUY CAO ĐỘ SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

(Ông): Phùng Xuân Minh. [ Chủ Tịch HĐQT PT Group & Saigon Ratings].

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Việt Nam đứng trước cơ hội lịch sử để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc. Sức mạnh ấy không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế hay trình độ công nghệ, mà còn bởi khả năng quy tụ lòng dân, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường và phát huy trí tuệ của mọi người Việt Nam.

Các nhà nghiên cứu thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc vừa là giá trị truyền thống, vừa là nguồn lực nội sinh và vấn đề chiến lược. Trong điều kiện mới, nguồn lực ấy phải được chuyển hóa thành năng lực phát triển, sức sáng tạo và sức chống chịu quốc gia; đồng thời được bảo đảm bằng cơ chế để Nhân dân tham gia, cống hiến, giám sát và thụ hưởng. [1]

1. Đại đoàn kết toàn dân tộc – sức mạnh nâng cao vị thế quốc gia

Vị thế quốc tế của Việt Nam trước hết được xây dựng từ sự ổn định, đồng thuận và niềm tin trong nước. Khi lợi ích quốc gia – dân tộc được đặt lên trên hết, đất nước sẽ có nền tảng vững chắc để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và hội nhập sâu rộng.

Trong bài viết “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Đột phá – Phát triển” phải trở thành lời hiệu triệu và trách nhiệm trước lịch sử. Điều đó cho thấy đoàn kết trong kỷ nguyên mới phải gắn với kỷ cương, đổi mới và năng lực hành động. [2]

Đại đoàn kết còn là nền tảng của “thế trận lòng dân”, giúp bảo vệ độc lập, chủ quyền và giữ vững môi trường hòa bình. Khi nội lực dân tộc được kết nối với vốn, tri thức, công nghệ và mạng lưới hợp tác quốc tế, Việt Nam có thể hội nhập sâu rộng mà vẫn giữ được bản sắc, bản lĩnh và quyền tự chủ chiến lược.

Do đó, đoàn kết trong nước và hội nhập quốc tế có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh và uy tín đối ngoại; ngược lại, thành tựu đối ngoại mở rộng không gian phát triển, thu hút nguồn lực và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với tương lai đất nước.

2. Khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực trong Nhân dân

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, Tổng Bí thư Tô Lâm xác định năm nhóm nhiệm vụ trọng tâm, trước hết là quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, coi Nhân dân là chủ thể và trung tâm của đổi mới, phát triển. Hiệu quả công tác Mặt trận phải được đánh giá bằng niềm tin, sự hài lòng, mức độ tham gia của Nhân dân và những cải thiện cụ thể trong đời sống. [3]

Mọi giai cấp, tầng lớp cần có điều kiện phát huy vai trò: công nhân làm chủ công nghệ; nông dân tham gia nền nông nghiệp hiện đại; trí thức, nhà khoa học được khuyến khích sáng tạo; doanh nhân đổi mới và có trách nhiệm xã hội; thanh niên đi đầu trong chuyển đổi số.

Đồng thời, cần chăm lo và phát huy vai trò của phụ nữ, người cao tuổi, cựu chiến binh, văn nghệ sĩ, người lao động tự do và các nhóm xã hội dễ bị tổn thương. Mỗi người dân, dù ở vị trí nào, đều phải có cơ hội tham gia và đóng góp vào sự nghiệp phát triển chung.

Sức mạnh của 54 dân tộc anh em và đồng bào các tôn giáo phải được phát huy trên nền tảng bình đẳng về cơ hội, thu hẹp khoảng cách phát triển, bảo tồn bản sắc và chăm lo người yếu thế. Đồng thuận xã hội phải là kết quả của dân chủ, đối thoại và giải quyết hài hòa lợi ích.

Phát huy đại đoàn kết cũng không có nghĩa là né tránh những ý kiến khác nhau. Một xã hội đoàn kết và phát triển cần có cơ chế để người dân góp ý, phản biện và giám sát. Những ý kiến có trách nhiệm sẽ giúp phát hiện sớm bất cập, nâng cao chất lượng chính sách và bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của Nhân dân.

3. Đổi mới hoạt động Mặt trận, đưa tiếng nói Nhân dân vào phát triển

Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI diễn ra từ ngày 11 đến 13/5/2026, thông qua 15 chỉ tiêu cụ thể và 7 chương trình hành động cho nhiệm kỳ 2026–2031. Các chương trình tập trung vào tập hợp Nhân dân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; nâng cao giám sát, phản biện; thúc đẩy lao động, sáng tạo; phát huy tự quản cộng đồng; mở rộng đối ngoại nhân dân; đổi mới bộ máy và chuyển đổi số. [4]

Điểm mới quan trọng là chuyển từ hội họp, khẩu hiệu sang hành động cụ thể, rõ mục tiêu, rõ trách nhiệm và đo được kết quả. Mặt trận phải thật sự là nơi hội tụ lòng dân, phản ánh ý dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của dân và kết nối sức dân. Cán bộ Mặt trận phải gần dân, hiểu dân và theo đuổi đến cùng những kiến nghị chính đáng.

Tổng Bí thư Tô Lâm cũng yêu cầu đổi mới phương thức tập hợp Nhân dân để thích ứng với sự thay đổi của cơ cấu xã hội. Bên cạnh cộng đồng dân cư truyền thống, cần quan tâm công nhân tại khu công nghiệp, người lao động trong các khu nhà trọ, các hiệp hội nghề nghiệp, doanh nghiệp, cộng đồng trên không gian mạng và người Việt Nam ở nước ngoài.

Trong tháng 6/2026, sau Đại hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành kế hoạch triển khai chương trình hành động và cụ thể hóa sáng kiến “Tháng nghe dân nói”. Hoạt động được triển khai từ cấp tỉnh đến cấp xã, quan tâm cả nhóm yếu thế; kết quả giải quyết kiến nghị và mức độ hài lòng của Nhân dân được xem là thước đo hiệu quả. Cùng với đó là Cổng Mặt trận số 24/7, việc số hóa ý kiến và công khai tiến độ xử lý để người dân giám sát. [5]

Đây là bước chuyển từ “vận động Nhân dân” sang “đồng hành cùng Nhân dân”; từ lắng nghe theo từng đợt sang lắng nghe thường xuyên; từ giám sát bằng kinh nghiệm sang giám sát có dữ liệu và phản hồi minh bạch.

Chuyển đổi số trong công tác Mặt trận không đơn thuần là đưa văn bản lên môi trường mạng. Mục tiêu cao hơn là giúp Mặt trận gần dân hơn, nghe dân rộng hơn, phản hồi nhanh hơn và giám sát quá trình giải quyết kiến nghị minh bạch hơn. Công nghệ phải trở thành công cụ kết nối ý Đảng với lòng dân.

4. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài – nguồn lực lớn của dân tộc

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có hơn 6,5 triệu người tại khoảng 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đây là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, đồng thời là nguồn lực về tri thức, công nghệ, đầu tư, thương mại, văn hóa và đối ngoại nhân dân.

Nguồn kiều hối gần 18 tỷ USD là đóng góp đáng kể, nhưng giá trị lớn hơn còn nằm ở khả năng kết nối Việt Nam với các trung tâm tri thức, công nghệ và thị trường thế giới. [6]

Trong kỷ nguyên số, chuyên gia kiều bào có thể tư vấn chính sách, đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ từ xa; doanh nhân kết nối chuỗi cung ứng và thương hiệu Việt; thế hệ trẻ trở thành những đại sứ văn hóa.

Cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, xây dựng mạng lưới chuyên gia Việt Nam toàn cầu, tạo môi trường minh bạch; đồng thời tăng cường dạy tiếng Việt, chương trình về nguồn và cơ hội học tập, khởi nghiệp cho thế hệ trẻ.

Việc phát huy nguồn lực kiều bào không nên chỉ được hiểu là thu hút tiền vốn hay kêu gọi hồi hương. Điều quan trọng là xây dựng những cơ chế linh hoạt để mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều có thể đóng góp bằng tri thức, sáng kiến, quan hệ quốc tế và tình cảm đối với quê hương.

5. Đẩy mạnh hòa hợp dân tộc, củng cố lòng tin và đồng thuận xã hội

Trong bài viết “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định hòa hợp dân tộc là lựa chọn chiến lược lâu dài và là một trụ cột của khối đại đoàn kết. Hòa hợp không phải là quên lịch sử hay xóa nhòa khác biệt, mà là tôn trọng những trải nghiệm khác nhau, phát huy lòng bao dung và cùng hướng đến tương lai hòa bình, thống nhất, hùng mạnh, văn minh, thịnh vượng. [7]

Mọi người Việt Nam, dù sinh sống ở đâu hay có trải nghiệm lịch sử khác nhau, đều có thể gặp nhau ở tình yêu quê hương. Cần lắng nghe tiếng nói xây dựng, ghi nhận đóng góp chân thành và trao đổi khác biệt chính đáng bằng đối thoại, pháp luật.

Hòa hợp dân tộc phải hướng đến tương lai nhưng không lãng quên lịch sử. Quá khứ cần được tôn trọng, tri ân và rút ra bài học; đồng thời không để những mất mát, định kiến và chia rẽ tiếp tục trở thành khoảng cách giữa những người cùng chung nguồn cội.

Lòng tin là nền móng của đại đoàn kết. Niềm tin chỉ bền vững khi bộ máy công quyền liêm chính, minh bạch, gần dân; khi tham nhũng, lãng phí và lợi ích nhóm được xử lý nghiêm; khi người dân được biết, được bàn, được tham gia, được giám sát và được thụ hưởng. Đại đoàn kết vì thế phải gắn với công bằng xã hội, phát triển bao trùm và chất lượng quản trị quốc gia.

Phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình chính là biến lòng yêu nước thành hành động, biến sự đồng thuận thành năng lực phát triển và biến khát vọng chung thành kết quả cụ thể trong đời sống Nhân dân.

Khi đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài chung sức, đồng lòng; khi mọi nguồn lực, tài năng và sáng kiến đều được trân trọng; khi quyền làm chủ và lợi ích chính đáng của Nhân dân được bảo đảm, Việt Nam sẽ có đủ nội lực, bản lĩnh và trí tuệ để tiến vững chắc tới mục tiêu hùng cường, thịnh vượng, văn minh và hạnh phúc.

Saigon Ratings [29/06/2026]

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *