KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

(Ông): Phùng Xuân Minh. [ Chủ Tịch HĐQT PT Group & Saigon Ratings]

Kinh tế Nhà nước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc đang bước vào một giai đoạn lịch sử phát triển mới, với yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực dẫn dắt và trách nhiệm đối với tương lai quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, hướng tới quốc gia thịnh vượng, hùng cường, kinh tế nhà nước không chỉ là khu vực nắm giữ những nguồn lực quan trọng của đất nước, mà còn là nền tảng vật chất để Nhà nước định hướng, điều tiết và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế quốc gia.

Trong kỷ nguyên mới, vai trò của kinh tế nhà nước cần được nhìn nhận theo tư duy hiện đại hơn. Đó không phải là sự bao cấp hay can thiệp hành chính vào thị trường, mà là năng lực kiến tạo phát triển, khơi thông nguồn lực, dẫn dắt các ngành then chốt, bảo đảm an ninh kinh tế, an ninh năng lượng, an ninh tài chính và chủ quyền phát triển quốc gia. Hệ thống doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức tín dụng nhà nước, nguồn vốn đầu tư công, tài sản công, kết cấu hạ tầng chiến lược và vốn nhà nước tại doanh nghiệp cần được quản trị theo hướng minh bạch, hiệu quả, chuyên nghiệp và có trách nhiệm giải trình cao.

Bài viết“Kinh tế Nhà nước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Gồm 03 phần, tập trung phân tích nguồn lực phát triển kinh doanh của khu vực Kinh tế nhà nước, kinh nghiệm quốc tế trong quản trị và phát triển doanh nghiệp nhà nước; đồng thời làm rõ vai trò của Kinh tế nhà nước trong tiến trình thực hiện mục tiêu quốc gia phát triển thịnh vượng, hùng cường.

Đây cũng là yêu cầu nhiệm vụ lịch sử hết sức quan trọng và cấp thiết, để khu vực Kinh tế nhà nước thật sự trở thành điểm tựa chiến lược phát triển kinh tế, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Điều này có nghĩa là Kinh tế nhà nước không lấn át thị trường, mà thực hiện chức năng kiến tạo động lực phát triển mạnh mẽ nền kinh tế quốc gia; không thay thế vai trò của khu vực Kinh tế tư nhân, mà làm nhiệm vụ mở đường, dẫn dắt và tạo cộng hưởng sức mạnh nội lực to lớn nhằm góp phần thực hiện sứ mệnh và mục tiêu thúc đẩy toàn bộ nền kinh tế Việt Nam phát triển mạnh mẽ hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn trong giai đoạn mới.

Phần thứ nhất: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Trong tổng thể chiến lược phát triển Kinh tế Nhà nước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hệ thống doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là lực lượng có vai trò nòng cốt của kinh tế nhà nước, trực tiếp nắm giữ, quản lý và vận hành nhiều nguồn lực có tính chiến lược của quốc gia, trong các lĩnh vực, ngành kinh tế then chốt như năng lượng, tài chính – ngân hàng, viễn thông, hạ tầng, logistics, dầu khí, khai khoáng, quốc phòng, an ninh và các dịch vụ thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân.

Nếu kinh tế nhà nước là cơ sở nguồn lực nền tảng để Nhà nước định hướng, điều tiết và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thì doanh nghiệp nhà nước chính là công cụ thực thi trực tiếp, biến nguồn lực công thành năng lực sản xuất, năng lực đầu tư, năng lực dẫn dắt thị trường và năng lực bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia.

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp nhà nước là không chỉ là bảo toàn vốn, mà còn phải nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng các nguồn lực kinh tế quan trọng và bao trùm của quốc gia, mở rộng không gian tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy quá trình đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và dẫn dắt các khu vực kinh tế khác cùng đồng hành phát triển, vì mục tiêu to lớn là dân tộc thịnh vượng, hùng cường và sánh vai với các cường quốc thế giới.

1. VAI TRÒ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC GIA

Doanh nghiệp nhà nước hiện vẫn giữ vai trò quan trọng trong những ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm của quốc gia, có tác động lớn đến ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh phát triển quốc gia. Trong các thời điểm nền kinh tế gặp biến động, hệ thống doanh nghiệp nhà nước thường là lực lượng giữ vai trò chủ đạo trong việc bình ổn cung – cầu thị trường, bảo đảm cung ứng hàng hóa, dịch vụ thiết yếu, đảm bảo duy trì thông suốt mạch vận hành của nền kinh tế và hỗ trợ thực hiện các mục tiêu chính sách công của đất nước.

Trong lĩnh vực năng lượng, các doanh nghiệp nhà nước như Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Petrovietnam có vai trò bảo đảm cung ứng điện, xăng dầu, khí đốt và các nguồn năng lượng thiết yếu cho sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ và hạ tầng số, các tập đoàn kinh tế như Viettel, VNPT giữ vai trò quan trọng trong phát triển hạ tầng thông tin, chuyển đổi số, an toàn dữ liệu và năng lực công nghệ quốc gia. Đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng, các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng có vốn nhà nước chi phối, là kênh dẫn vốn quy mô lớn cho cả nền kinh tế; đặc biệt là đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng cần được ưu tiên như nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và kinh tế xanh.

Vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì vậy phải cần được đánh giá, nhìn nhận theo cách hiện đại hơn. Doanh nghiệp nhà nước không chỉ là các đơn vị sản xuất kinh doanh, mà còn là lực lượng chủ đạo dẫn dắt đầu tư dài hạn trong nền kinh tế quốc gia, tạo nền tảng vững chắc cho các ngành, lĩnh vực kinh tế chiến lược; đồng thời mở đường cho khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị cung ứng quốc gia và quốc tế. Khi được tổ chức quản trị, quản lý hiệu quả, doanh nghiệp nhà nước có thể trở thành “đầu tàu” tạo hiệu ứng lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế.

2. NGUỒN LỰC KINH TẾ CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC ĐANG NẮM GIỮ

Một trong những đặc điểm nổi bật của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, là đang nắm giữ các nguồn lực kinh tế rất lớn của quốc gia. Các doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ khối lượng tài sản, vốn, cơ sở hạ tầng, đất đai, thương hiệu, nhân sự và năng lực vận hành có ý nghĩa chiến lược đối với nền kinh tế. Theo các thông tin công bố, khu vực doanh nghiệp nhà nước đang quản lý khối tài sản ở quy mô xấp xỉ và trên 4 triệu tỷ đồng (tương tương khoảng 160 tỷ USD), vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp nhà nước hiện nay ở mức rất lớn, đồng thời tạo việc làm cho số lượng lao động đáng kể trong nền kinh tế.

Nguồn lực phát triển kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước không chỉ nằm ở vốn tài chính. Đó còn là hệ thống cơ sở vật chất gồm có nhà máy điện, lưới truyền tải, cảng biển, sân bay, kho bãi, đường ống, mạng viễn thông, dữ liệu, mỏ tài nguyên, quyền khai thác tài sản quốc gia, quỹ đất sản xuất kinh doanh, đội ngũ kỹ sư, chuyên gia và lực lượng lao động có kinh nghiệm. Đây là những tài sản có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và bảo đảm năng lực tự chủ kinh tế của quốc gia.

Bên cạnh đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước cũng đang nắm giữ nguồn lực tài chính rất lớn. Với tổng tài sản và dư nợ tín dụng chiếm tỷ trọng cao trong toàn hệ thống ngân hàng, khu vực này có khả năng dẫn vốn cho các dự án trọng điểm, các ngành sản xuất chủ lực và các chương trình phát triển kinh tế – xã hội. Đây là lợi thế lớn của Kinh tế Nhà nước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, bởi nếu được điều phối hiệu quả, các nguồn lực tài chính nhà nước có thể trở thành “vốn mồi”, kích hoạt thêm với nguồn vốn tư nhân, vốn quốc tế và vốn toàn xã hội để có thể đầu tư phát triển mạnh mẽ vào các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế trong từng thời kỳ phát triển.

Tuy nhiên, quy mô nguồn lực kinh tế lớn cũng đồng nghĩa với trách nhiệm của các doanh nghiệp nhà nước nặng nề. Vấn đề trọng tâm không chỉ là doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ bao nhiêu tài sản, mà là các tài sản đó có được hạch toán đầy đủ, khai thác hiệu quả, minh bạch và tạo ra giá trị gia tăng tương xứng cho nền kinh tế quốc gia hay không.

3. HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐÓNG GÓP CHO QUỐC GIA

Một là, trong những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp nhà nước tiếp tục đóng góp quan trọng vào tăng trưởng, thu ngân sách, ổn định vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Một số Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước đã duy trì doanh thu, lợi nhuận và nộp ngân sách ở quy mô lớn, trong đó có những doanh nghiệp giữ vai trò trụ cột quan trọng như Petrovietnam, Viettel, EVN, các ngân hàng thương mại nhà nước và nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực đầu tư hạ tầng, dịch vụ công ích.

Đóng góp của doanh nghiệp nhà nước được thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết, là đóng góp trực tiếp thông qua doanh thu, lợi nhuận, cổ tức, thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước. Đây là nguồn lực tài chính quan trọng để Nhà nước có thể sử dụng tái đầu tư cho nhiều lĩnh vực kinh tế khách nhau như hạ tầng, giáo dục, y tế, an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh và các chương trình phát triển kinh tế dài hạn.

Hai là, doanh nghiệp nhà nước đóng góp gián tiếp thông qua việc bảo đảm ổn định thị trường. Trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng như điện, xăng dầu, viễn thông, tài chính, vận tải và lương thực, doanh nghiệp nhà nước có vai trò giữ nhịp cung ứng, hạn chế đứt gãy chuỗi cung ứng, kiểm soát các cú sốc kinh tế lớn và hỗ trợ điều hành kinh tế vĩ mô. Đây là giá trị không phải lúc nào cũng được phản ánh đầy đủ trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhà nước, nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với sự ổn định, an toàn và an ninh kinh tế quốc gia.

Ba là, doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò dẫn dắt đầu tư. Các doanh nghiệp nhà nước thường tham gia đầu tư phát triển những dự án trọng điểm quốc gia có quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài, rủi ro cao, nhưng có ý nghĩa nền tảng đối với phát triển quốc gia. Các dự án điện lực, dầu khí, hạ tầng số, cảng biển, logistics, công nghiệp quốc phòng, công nghệ lõi và chuyển đổi xanh đều cần sự tham gia chủ động của doanh nghiệp nhà nước để tạo nền tảng ban đầu, sau đó thu hút khu vực tư nhân và nhà đầu tư quốc tế cùng đồng hành tham gia.

Do đó, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước không nên chỉ đánh giá bằng lợi nhuận ngắn hạn, mà cần được nhìn trong mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính, hiệu quả xã hội, hiệu quả chiến lược và năng lực lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế quốc gia.

4. NHỮNG VẤN ĐỀ HẠN CHẾ, TỒN TẠI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Thứ nhất, bên cạnh những thành tựu kinh doanh và đóng góp quan trọng cho kinh tế quốc gia, hệ thống doanh nghiệp nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, tồn tại lớn cần phải được nhìn nhận, nhận diện và đánh giá thẳng thắn. Trước hết, là hiệu quả sử dụng vốn và tài sản ở một số doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với quy mô các nguồn lực kinh tế đang nắm giữ. Còn có nhiều doanh nghiệp sở hữu tài sản lớn, với nhiều lợi thế cạnh tranh trên thị trường, nhưng năng suất, khả năng đổi mới sáng tạo, năng lực cạnh tranh và hiệu quả sinh lời còn thấp.

Thứ hai, chất lượng hoạt động quản trị, quản lý của hệ thống doanh nghiệp nhà nước còn chưa đồng đều. Ở một số doanh nghiệp, cơ chế quản lý vẫn nặng về hành chính, quy trình quyết định đầu tư còn kéo dài, trách nhiệm chưa gắn chặt với quyền hạn, trong khi tiêu chuẩn quản trị, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro và minh bạch thông tin chưa theo kịp thông lệ thế giới hiện đại. Điều này đã dẫn đến hệ quả là làm giảm tính năng động sáng tạo, giảm tốc độ phản ứng thị trường, làm chậm quá trình đổi mới kinh doanh và lãng phí các nguồn lực kinh doanh.

Thứ ba, còn có một số doanh nghiệp nhà nước chưa thật sự đóng vai trò tiên phong đia đầu trong khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Trong kỷ nguyên mới, doanh nghiệp nhà nước phải chuyển từ tư duy khai thác lợi thế sẵn có sang tư duy tạo lợi thế mới bằng công nghệ, dữ liệu, năng suất và mô hình kinh doanh hiện đại.

Thứ tư, vẫn còn tình trạng lãng phí, thất thoát, dự án chậm tiến độ, dự án kém hiệu quả, tài sản chưa được khai thác đúng mức tại nhiều doanh nghiệp nhà nước. Đây là một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay, cần phải được xử lý quyết liệt, kịp thời và hiệu quả; bởi khi mỗi nguồn lực nhà nước bị đóng băng hoặc sử dụng kém hiệu quả đều có thể làm giảm sức bật và vị thế cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra trong Kinh tế Nhà nước trong Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, là các doanh nghiệp nhà nước phải liên tục đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị, quản lý doanh nghiệp, tách bạch rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu vốn, nâng cao trách nhiệm giải trình, minh bạch hóa thông tin, áp dụng chuẩn quản trị hiện đại và đánh giá hiệu quả trên cả tiêu chí tài chính lẫn phi tài chính.

Doanh nghiệp nhà nước cần được trao quyền nhiều hơn, nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm cao hơn. Cần tạo cơ chế để doanh nghiệp nhà nước chủ động đầu tư, liên kết với doanh nghiệp tư nhân, hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu và dẫn dắt các lĩnh vực chiến lược. Khi đó, doanh nghiệp nhà nước mới thật sự trở thành lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, góp phần đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, thịnh vượng và hùng cường trong kỷ nguyên phát triển mới.

Phần thứ hai: Những bài học kinh nghiệm thành công và khuyến nghị cải cách quản lý của các tổ chức quốc tế