Triển vọng kinh tế Việt Nam cuối năm 2026 tiếp tục tích cực nhưng cần thận trọng với các rủi ro vĩ mô
Sau kết quả tăng trưởng 9,01% trong 9 tháng đầu năm 2026, triển vọng kinh tế Việt Nam trong 3 tháng cuối năm được đánh giá tương đối tích cực, nhờ nền tảng từ sản xuất công nghiệp, đầu tư, tiêu dùng nội địa, dòng vốn FDI và hoạt động thương mại quốc tế. Động lực tăng trưởng qua các quý có xu hướng cải thiện, trong đó GDP quý III tăng 9,95%. Đây là cơ sở quan trọng để nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong quý IV năm 2026 nếu các động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam về sản xuất, đầu tư công, tiêu dùng và xuất khẩu tiếp tục được phát huy.
Tuy nhiên, triển vọng tích cực không đồng nghĩa với việc các rủi ro đã suy giảm. Áp lực lạm phát, nhập siêu, tỷ giá, giá năng lượng, diễn biến thương mại toàn cầu và chất lượng tín dụng vẫn là những yếu tố có khả năng ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng trong những tháng cuối năm 2026. Vì vậy, trọng tâm điều hành cần chuyển dần từ việc thúc đẩy tăng trưởng về lượng sang duy trì tăng trưởng cao đi cùng ổn định kinh tế vĩ mô và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Đầu tư, sản xuất và tiêu dùng tiếp tục là ba động lực quan trọng trong quý IV/2026
Trong quý IV, đầu tư công được kỳ vọng tiếp tục đóng vai trò dẫn dắt thông qua các dự án hạ tầng giao thông, logistics, đô thị và năng lượng. Việc đẩy nhanh giải ngân không chỉ trực tiếp đóng góp vào tổng cầu mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa đến xây dựng, vật liệu, vận tải và các ngành dịch vụ liên quan. Bên cạnh đầu tư công, dòng vốn FDI tiếp tục là động lực quan trọng. Việc vốn FDI đăng ký và thực hiện tăng mạnh trong 9 tháng cho thấy Việt Nam vẫn giữ được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến, chế tạo và công nghệ.
Sản xuất công nghiệp cũng có khả năng duy trì đà tăng trưởng khi các doanh nghiệp bước vào chu kỳ sản xuất cao điểm phục vụ nhu cầu cuối năm 2026. Tuy nhiên, mức tồn kho hàng hóa tăng và những bất định về tình hình hoạt động thương mại quốc tế cho thấy, khả năng mở rộng sản xuất cần được theo dõi cùng với sức cầu thực tế.
Ở khu vực tiêu dùng, mùa mua sắm cuối năm 2026, du lịch, dịch vụ và các hoạt động thương mại được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ gia tăng tổng cầu trong nước. Nếu thu nhập, việc làm và niềm tin tiêu dùng được duy trì tăng trưởng tích cực, khu vực dịch vụ có thể tiếp tục đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý IV năm 2026.
Xuất khẩu vẫn là động lực lớn nhưng phụ thuộc nhiều hơn vào môi trường thương mại toàn cầu
Với độ mở kinh tế cao, triển vọng Việt Nam trong những tháng cuối năm 2026 tiếp tục phụ thuộc đáng kể vào diễn biến hoạt động thương mại toàn cầu. Sự tăng trưởng mạnh của xuất khẩu trong 9 tháng năm 2026 cho thấy, khu vực sản xuất hướng ngoại vẫn có khả năng chống chịu tốt. Tuy nhiên, xu hướng bảo hộ thương mại, điều chỉnh thuế quan và cạnh tranh giữa các nền kinh tế lớn có thể tác động đến đơn hàng, chi phí sản xuất và quyết định đầu tư.
Báo cáo cập nhật của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) trong tháng 9/2026 nhận định các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Nam Á tiếp tục có triển vọng tăng trưởng tương đối tích cực, với tăng trưởng khu vực được nâng lên khoảng 4,7% năm 2026 và 4,9% năm 2027. Tuy vậy, tổ chức này đồng thời cảnh báo các rủi ro từ giá năng lượng cao, El Niño, bất ổn địa chính trị và khả năng gia tăng các biện pháp bảo hộ thương mại toàn cầu. Đối với Việt Nam, điều này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng giá trị trong nước thay vì phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động sản xuất gia công và nhập khẩu lớn nguyên liệu đầu vào.
Các tổ chức quốc tế duy trì đánh giá tích cực nhưng mức dự báo còn phân hóa
Các tổ chức quốc tế nhìn chung tiếp tục đánh giá Việt Nam là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực, nhưng mức dự báo cụ thể vẫn khác nhau do thời điểm cập nhật và các giả định về thương mại, năng lượng và chính sách.
Trong Báo cáo cập nhật tháng 9/2026, ADB đã nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam cho hai năm 2026 và 2027 lên mức lần lượt 7,8% và 7,6% (tăng so với mức 7,2% và 7,0% của kỳ báo cáo trước). ADB cũng tăng dự báo lạm phát năm 2026 và 2027 lên mức lần lượt 4,3% và 4,0% (tăng so với mức 4,0% và 3,8% của kỳ báo cáo trước).
Trong khi đó, Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) trong Báo cáo tháng 5 năm 2026, dự báo kinh tế Việt Nam tăng khoảng 6,8% trong năm 2026; đồng thời nhấn mạnh vai trò của xuất khẩu, đầu tư và cải cách thể chế đối với triển vọng trung hạn. WB cũng nhận định rằng, khả năng nâng giá trị gia tăng nội địa, tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước và cải thiện năng suất sẽ là yếu tố quyết định đối với tăng trưởng bền vững.
Tuy nhiên, các dự báo trên đây của một số tổ chức quốc tế, được thực hiện đánh giá và công bố thông tin trước khi có đầy đủ kết quả tăng trưởng GDP của Việt Nam trong 9 tháng năm 2026. Do đó, mức tăng trưởng kinh tế quốc gia thực tế 9,01% trong 9 tháng đầu năm cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang vận động tích cực hơn so với nhiều giả định trước đó.
Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2027
Năm 2027, có thể được xem là mốc thời điểm quan trọng có tính bản lề để Việt Nam có thể chuyển từ mục tiêu “tăng trưởng kinh tế cao” sang “tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và bền vững chất lượng”. Từ đó, góp phần tạo lập các nền tảng quan trọng và vững chắc hơn cho chu kỳ phát triển kinh tế mới, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Saigon Ratings nhận định, triển vọng kinh tế năm 2027 là tích cực nhưng chất lượng tăng trưởng sẽ trở thành tiêu chí quan trọng hơn tốc độ tăng trưởng GDP của quốc gia. Câu hỏi hết sức quan trọng sẽ không chỉ là Việt Nam tăng trưởng GDP bao nhiêu phần trăm hàng năm; mà là tăng trưởng dựa trên động lực nào và mức độ chất lượng bền vững ra sao, vì vậy Saigon Ratings cho rằng:
Thứ nhất, nếu tiếp tục cải cách thể chế kinh tế mạnh mẽ, tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn và nâng cao năng suất sẽ góp phần tạo động lực tăng trưởng kinh tế trong trung và dài hạn. Đi đôi với việc, kiểm soát tốt lạm phát và rủi ro tài chính, nâng hiệu quả đầu tư công, củng cố thị trường tài chính và nâng cao năng lực thu hút dòng vốn FDI thế hệ mới, Việt Nam có cơ sở để duy trì vị thế là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh của khu vực.
Thứ hai, để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong năm 2027, Việt Nam cần chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào vốn đầu tư sang mô hình dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Ưu tiên đầu tiên là tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Các điểm nghẽn trong thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, năng lượng và tiếp cận vốn cần được xử lý đồng bộ.
Thứ ba, đầu tư công cần được sử dụng như một công cụ tạo năng lực sản xuất mới thay vì chỉ nhằm thúc đẩy tổng cầu ngắn hạn. Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông, cảng biển, logistics, điện và hạ tầng số có thể tạo hiệu ứng lan tỏa lớn hơn đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Thứ tư, Việt Nam cần phát triển sâu và đồng bộ hơn về thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán nhằm giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng.
Thứ năm, chính sách thu hút FDI cần chuyển từ ưu tiên số lượng sang chất lượng, công nghệ và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Saigon Ratings. [06/10/2026]
